Chào mừng quý vị đến với website của ...

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gốc > ĐIỂN HAY TÍCH LẠ >

Củi đậu đun hạt đậu

 

             Điển tích: Củi đậu đun hột đậu.



Đời Tam Quốc ( 220-264), Tào Thực tự Tử Kiến là con thứ 3 của Tào Tháo, vốn có tài làm thơ hay, được tiếng là đệ nhất thi nhân đời Tần Hán nhưng có tính phóng túng, Tào Tháo thương lắm nhưng không thể truyền ngôi cho một chàng giàu tâm hồn nghệ sĩ ấy được.
Tháo chét, truyền ngôi cho con cả là Tào Phi. Thực bản tính ngông nghênh, bất phục, có ý chống lại ông anh vua. Phi giận lắm, truyền người bắt thực đến định làm tội. Nhưng vì yêu tài nên Phi bảo:
-Ta với mày là anh em nhưng nghĩa vua tôi, sao dám cậy tài miệt lễ? Ngày tiên quân hãy còn, mày thường đem văn chương khoe giỏi loè đời. Ta rất nghi, có lẽ mày nhờ người khác làm giúp. Vậy giờ ta ra hạn: đi bảy bước phải làm xong một bài thơ. Nếu làm được thì tha tội chết; bằng không xong, ta quyết chẳng dung,
   Thực nói: Xin cho đề cho.
Trên điện sẵn có treo bức tranh thuỷ mặc, vẽ hai con trâu húc nhau bên tường đất. Một con rơi xuống giếng chết. Tào Phi trỏ vào bức tranh, bảo:
   -Hãy lấy bức hoạ kia làm đề. Nhưng trong thơ cấm phạm vào những chữ" Ngưu, Đẩu, Tường, Trụy, Tỉnh, Tử" ( Trâu, Chọi, Tường, Rơi, Giếng , Chết).
Thực đi khoan thai. Vừa hết bẩy bước, liền cất tiếng ngâm:

                          ''Hai tấm thân di đường
                            trên đầu bốn khúc xương.
                            Gặp nhau tựa sườn núi,
                            Bỗng đâu nổi chiến trường.
                            Đôi bên đua sức mạnh,
                            Một địch lăn xuống hang.
                            Đâu phải thua kém sức,
                            Chẳng qua sự lỡ làng.

Nguyên văn:

                            Lưỡng nhục tề đạo hành,
                            Đầu thượng đới ao cốt.
                            Tương ngô do sơn hạ,
                            Nhi địch bất câu cương,
                            Nhất nhục ngọạ thổ quật
                            Phi thi lực bất hư,
                            Thịch khí bất tiết tất".

Tào Phi cùng tất cả quần thần đều giật mình, nức nở khen hay.Phi lại hỏi:
          - Bảy bước làm thơ, ta còn cho là chậm. Mầy có thể ứng khẩu đọc ngay một bài được chăng?
Thực đáp:   Xin ra đề cho.
Phi nói: Ta với mầy là anh em. Cứ lấy câu đó làm đầu đề. Nhưng cũng cấm dùng hai chữ " Huynh, Đệ". Thực chẳng cần nghĩ ngợi một giây, ứng khẩu đọc ngay:

                             " Củi đậu đun hột đậu
                                Đậu trong nồi khóc kêu:
                               -Cùng sinh ra một gốc,
                                Bức nhau chi đến điều.

Nguyên văn:

                             " Chữ đậu nhiên đậu cơ,
                                Đậu tại phâu trung khấp.
                                Bản thị đồng căn sinh,
                                Tương tiễn hà thái cấp

Phi nghe cảm động, sa nước mắt, liền tha cho, nhưng giáng Tào Thực làm An hương hầu.
-Ở Việt Nam trong thời Tây Sơn ( 1771-1802), hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ suýt đánh nhau để tranh giành quyền. Nguyễn Nhạc yếu thế phải khóc nói voeis em:
- Bì oa chữ nhục, đệ tâm hà nhẫn?
Nghĩa là: Nồi da nấu thịt, lòng em sao nỡ?! Nên Nguyễn Huệ cảm động , rồi cả hai hoà nhau.
Ở tỉnh Bình Định, mỗi khi người ta đi săn được hươu nai gì người ta hay lột da để làm nồi nấu thịt. Do đó, ca doa Bình Định có câu:

                       " Da nai mà nấu thịt nai,
                        Việc đời như thế ai không động lòng.
                         Thịt nai mà chín bên trong,
                        Da nai cũng cháy còn mông nỗi gì.".

Cảm động lời nói của Nguyễn Nhạc, người Bình Định đem câu đó diễn đạt bằng câu ca dao:
                           " Lỗi lầm an vẫn là anh,
                       Nồi da nấu thịt, sao đành hỡi em?.
Đời nhà Nguyễn( 1892-1945) vua TỰ Đức giết anh mình là Hồng Bảo để củng cố địa vị ngai vành của mình. Một hôm, trong một buổi chầu nhà vua vô ý cắm nhầm lưỡi mới khiến quần thần làm thơ chơi, nhưng trong thơ cấm dùng tiếng " răng, Lưỡi".
Đây là bài thơ của cụ Nguyễn Hàm Ninh:

                        Ngã sinh chi sơ nhữ vị sinh,
                       Nhữ sinh chi hậu ngã vi huynh.
                       Bất tư cộng hưởng trân cam vị;
                      Hà nhẫn tương vong cốt nhúc tình."

Tạm dịch:

                        Thủa tớ sinh ra mày chửa sinh,
                      Mầy sinh sau tớ, tớ là anh
                     Ngọt bùi chẳng nghĩ cùng nhau hưởng,
                     Xương thịt đành tâm nỡ dứt tình."

Nhà vua khen hay thưởng một nén vàng; nhưng vì cho là bài thơ có ý nói " móc", nên bắt phạt mỗi chữ đánh một doi.
" Củi đậu đun hột đậu", " nồi da nấu thịt", "Răng cắn lưỡi" thành ngữ điển tích nầy đều có một ý nghĩa như nhau.

 

 

                                                                    ST

 


Nhắn tin cho tác giả
Lê Quyên @ 10:16 24/10/2012
Số lượt xem: 3091
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến